ÔN LÝ GIẢI BIỂU

PHÁC ĐỒ: 108, 8, 3+-,  17-+, 156, 22, 143, 324, 24 (131 cũ).

Ôn Lý Giải Biểu và Trừ Đàm Thấp Thủy
Ôn Lý Giải Biểu

KỸ THUẬT: hơ và xức dầu.

TÁC DỤNG: làm ấm bên trong sâu (Lý), đưa hàn khí ra ngoài (Biểu) và làm tan hàn khí.

Nên dùng trong những trường hợp nhiễm lạnh vào sâu bên trong, bộ Thăng không có tác dụng.

Những chứng cảm lạnh lâu ngày không khỏi, các Đông – y – sỹ đã kết luận “phong hàn nhập lý”,”cảm nhập lý” – nói như vậy để phân biệt trường hợp cảm lâu ngày do suy nhược. Những trường hợp nhiễm lạnh sâu lâu ngày gây đau nhức toàn thân mà các loại phương thang Bắc Nam không điều trị được vì kinh lạc bị khí lạnh làm bế tắc, phải uống thuốc giảm đau liên tục (thuốc Tây) – đây là bệnh thường gặp trên các bệnh nhân nông ngư nghiệp, có thời gian sống lâu ở miền Bắc nước ta.

TRỪ ĐÀM THẤP THỦY

Đàm, thấp và thủy là ba tác nhân gây bệnh thường có mặt trong nhiều loại bệnh chứng khác nhau. Chúng thường quấy rối cơ thể bệnh nhân và gây trở ngại cho việc trị bệnh chính cho bệnh nhân.

I. PHÁC ĐỒ – KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG

Có 3 phác đồ dùng cho 3 mức độ bệnh khác nhau từ nhẹ tới nặng. Lọc thấp là dùng cho trường hợp thấp nhẹ, trừ thấp được dùng cho mức độ thấp trung bệnh, trục thấp là trường hợp thấp nặng.

  • Lọc thấp: 107, 240, 12, 184, 290, 7, 347.
Ôn Lý Giải Biểu và Trừ Đàm Thấp Thủy
Bộ Lọc Thấp
  • Trừ thấp: 521, 87, 22 B, 235, 127, 347, 236, 85, 29 (222), 53, 7, 63, 64, 287, 19, 39, 1, 290, 240, 26,103.
Ôn Lý Giải Biểu và Trừ Đàm Thấp Thủy
Trừ Đàm Thấp Thủy
  • Trục thấp: tác động trọn ụ cằm; bờ môi dưới; bờ môi trên và cánh mũi (giới hạn bởi pháp lệnh), toàn bộ mũi kéo dài lên vùng huyệt 103 – 175. Phác đồ này được dùng khi cần trục đàm thấp thủy thật mạnh.

Về mức độ bệnh Thấp Thủy cần điều trị nhiều mới có kinh nghiệm phán đoán. Nếu chưa có kinh nghiệm các bạn có thể dùng phác đồ lọc thấp trước, nếu không hiệu quả mới tăng dần theo các phác đồ sau.

Chú ý:

  • Cần chẩn đoán về hàn nhiệt trước khi điều trị.
  • Rất ít khi phải dùng trọn bộ huyệt nêu trên.
  • Dò sinh huyệt trước khi tác động.
  • Sử dụng que dò có dầu cao trước, nếu không có tác dụng mới sử dụng ngải cứu trong những trường hợp bệnh thuộc hàn.
  • Nếu sử dụng que dò thì day mỗi huyệt chừng 30 cái với vaseline khi bệnh thuộc nhiệt, với dầu cao khi bệnh thuộc hàn.
  • Dán cao khi bệnh thuộc thấp-thủy nặng (thường thuộc hàn chứng).
  • Nếu sử dụng ngải cứu thì hơ nóng mỗi huyệt 3 lần rồi xoa dầu cao vào huyệt, khi bệnh thuộc hàn nặng.
  • Mỗi lần điều trị cần xem xét lại trước khi dùng, đề phòng sự quá liều rất dễ xảy ra.

II. KINH NGHIỆM LÂM SÀNG

  • Một hay các hiện tượng sau đây sẽ xảy ra khi chẩn đoán đúng và điều trị đúng mức độ: bệnh chứng thuyên giảm rõ rệt.
  • Bệnh nhân có thể đột ngột đi tiêu lỏng, sệt hoặc có đàm nhớt lẫn trong phân. Có thể đau bụng hoặc không, nhưng không quá 5 lần trong một ngày đêm, càng đi tiêu càng thấy người thoải mái chứ không mệt như các trường hợp đi tiêu lỏng khác.
  • Bệnh nhân có thể khát nước hơn, nên uống ngay nước ấm hay đun sôi để nguội (không nên uống nước ướp lạnh hay nước đá) và uống từ từ chứ không uống nhanh. Khi cảm thấy hết khát thì ngưng ngay chứ không uống cho hết nước đã rót ra ly. Tình trạng này có khi do tác động quá liều, do đó cần hỏi kỹ để ngưng kịp thời, tránh tác dụng xấu.
  • Bệnh nhân có thể thấy choáng váng một lúc rồi tự hết, sau khi điều trị về. Đây là hiện tượng tốt.
  • Bệnh nhân có thể thấy cơ bắp toàn thân rần rần như có cái gì chạy nhè nhẹ; rõ nhất ở vùng bụng dưới và hai chân. Có thể hai chân bỗng tê rần, mỏi nhừ hoặc yếu sức hoặc đau nhức (trước đây không có hoặc quá nhẹ); nhất là khi bệnh nhân đang có bệnh thuộc vùng bụng dưới thắt lưng hay vùng chân.
  • Bệnh nhân có thể bỗng bị nổi mụn ngứa (giống như bị dị ứng), cứ yên tâm vì khoảng ba ngày đến hai tuần sau sẽ tự hết tùy nhẹ hay nặng. Đây là sự giải độc.

LƯU Ý: khi bệnh nhân có một trong các hiện tượng sau đây là ta đã chẩn trị sai hoặc tác động quá liều về huyệt hay về kỹ thuật.

  • Bệnh nhân bỗng cảm thấy chán ăn hơn trước. bệnh nhân bị nóng người, khô người, khát nước, uống nước thấy ngon uống thật nhiều mới thấy hết khát, người thấy mệt (không phải mỏi), hồi hộp tim, khó ngủ.
  • Nên dùng nước dừa, dưa hấu hoặc thanh long kèm với bộ BỔ ÂM HUYẾT để điền lại huyết dịch cho bệnh nhân.

III. TÁC DỤNG

Loại trừ đàm, thấp và nước ứ đọng trong cơ thể bệnh nhân.

IV. CHỦ TRỊ

  • Giải quyết tất cả các bệnh do đàm ẩm gây ra; dứt điểm hoặc hỗ trợ cho các phương hướng điều trị khác. Tuy nhiên, giữ gìn và phục hồi chính khí của bệnh nhân là việc cần chú ý trước và sau khi dùng nó.
  • Có thể dùng để điều trị các bệnh thường gặp như: ho đàm, thủy thũng, thấp khớp, trúng nước nặng (khi BỘ THĂNG tỏ ra kém hiệu quả), huyết trắng không có yếu tố nhiễm trùng, béo phì bệnh lý (mập nước), đại tiện phân nhão thường xuyên, ăn kém lâu ngày mà các loại thuốc bổ không có tác dụng (vì đàm thấp ứ đọng cản trở sự hấp thu của cơ thể).

V. CHỐNG CHỈ ĐỊNH

  • Cũng như các phương án điều trị có tính tấn công khác, không nên dùng bộ huyệt này cho các bệnh nhân suy nhược, suy tim, to tim. 
  • Tuy nhiên khi đàm thấp thủy là nguyên nhân gây bệnh thì rõ ràng phải trừ gấp để lập lại sự lưu lợi cho các tuyến sinh lý cơ thể, nếu không sẽ rất khó giải quyết các bệnh chứng liên quan (trường hợp này phải rất cẩn thận khi dùng).

VI. CHẾ ĐỘ SINH HOẠT, ĂN UỐNG

Tránh tái nhiễm thủy ẩm suốt thời gian điều trị và sau khi điều trị xong khoảng ba tháng.

  • Về sinh hoạt, kiêng cữ các hoạt động sau đây: tắm ban đêm, tắm nước nóng mà lâu (nên tắm nhanh), uống nước nhanh (nên uống từ tốn), tiếp xúc với nước nhiều, nằm ngủ dưới đất, tiếp xúc với sức nóng nhiều và lâu.
  • Về ăn uống: cữ dùng các thứ quá mát hoặc lạnh, các thứ có chất nhớt như đậu bắp, mồng tơi, rau đay, khoai mỡ, sữa đặc, lòng trắng trứng… Các loại cà, măng và các thức chua kể cả các loại mứt làm từ thức chua như mứt me, mứt dâu v.v… Các món này có vẻ nghịch lý với Tây y nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy là phải cữ!!??

VII. KẾT LUẬN

Có thể là do ăn uống sai phép dưỡng sinh mà tạo ra bất ngờ. Nhưng thông thường Đàm Thấp Thủy là những sản phẩm được tạo ra khi có một trục trặc sinh lý nào đó. Tuy vậy bệnh nhân không chú ý vì quá trình tạo lập thường chậm chạp từng chút một cho đến khi đủ cường độ thì mới gây tác hại. Vì vậy ít ai cảnh giác mà có khi còn cho là sự tự nhiên của cơ thể! Do đó họ không kể ra khi khai bệnh.

Tuy là một sản phẩm có vẻ bệnh thường (dưới mắt bệnh nhân) nhưng chính chúng là tác nhân gây bệnh và cản trở việc điều trị bệnh chính. Việc điều bổ chỉnh đốn sinh lý cơ thể cho bệnh nhân là mục tiêu tối hậu, nhưng nếu không trừ chúng đi trước thì có khi cũng khó đạt mục tiêu tốt đẹp này.

Vì là một phương pháp tấn công nên khi dùng bộ huyệt này chúng ta cần theo dõi kỹ lưỡng diễn tiến lâm sàng để linh hoạt điều chỉnh mức độ điều trị cho thích hợp; để tấn công đúng lúc, dừng lại đúng lúc và bồi bổ (bằng bộ BỔ ÂM HUYẾT hoặc BỔ TRUNG) đúng lúc hầu đạt hiệu quả tốt. Muốn thế xin quý vị lưu ý phần I và II của bài này.

MỘT SỐ DỤNG CỤ DIỆN CHẨN THAM KHẢO

-17%
Giá gốc là: 300.000 VNĐ.Giá hiện tại là: 248.000 VNĐ. Thêm Vào Giỏ
-44%
Khoảng giá: từ 427.000 VNĐ đến 788.000 VNĐ Thêm Vào Giỏ Sản phẩm này có nhiều biến thể. Các tùy chọn có thể được chọn trên trang sản phẩm
-47%
Giá gốc là: 1.500.000 VNĐ.Giá hiện tại là: 798.000 VNĐ. Thêm Vào Giỏ
-50%
Khoảng giá: từ 150.000 VNĐ đến 180.000 VNĐ Thêm Vào Giỏ Sản phẩm này có nhiều biến thể. Các tùy chọn có thể được chọn trên trang sản phẩm
-31%
Giá gốc là: 400.000 VNĐ.Giá hiện tại là: 278.000 VNĐ. Thêm Vào Giỏ
-36%
Giá gốc là: 280.000 VNĐ.Giá hiện tại là: 180.000 VNĐ. Thêm Vào Giỏ
-40%
Giá gốc là: 300.000 VNĐ.Giá hiện tại là: 180.000 VNĐ. Thêm Vào Giỏ
-22%
Khoảng giá: từ 548.000 VNĐ đến 688.000 VNĐ Thêm Vào Giỏ Sản phẩm này có nhiều biến thể. Các tùy chọn có thể được chọn trên trang sản phẩm