Trĩ lòi dom (hay còn gọi là trĩ ngoại) là một tình trạng y học phổ biến liên quan đến sự giãn nở và sưng viêm của các mạch máu tại vùng trực tràng và hậu môn.
Ta có thể sử dụng sử dụng các thiết bị diện chẩn kết hợp với phác đồ diện chẩn của giáo sư Bùi Quốc Châu để can thiệp vào giảm trĩ.
Diện Chẩn Thân Tâm sẽ hướng dẫn chi tiết về nguyên nhân, triệu chứng và cách áp dụng kỹ thuật Diện Chẩn giúp giảm trĩ, lòi dom.

Nguyên nhân gây ra trĩ lòi dom
Trĩ lòi dom xảy ra do nhiều nguyên nhân, bao gồm:
- Tăng áp lực lên tĩnh mạch hậu môn:
- Táo bón hoặc tiêu chảy mãn tính: Khi phải rặn mạnh để đi tiêu, áp lực gia tăng lên vùng hậu môn có thể gây giãn tĩnh mạch.
- Thai kỳ: Sự tăng trưởng của thai nhi trong bụng gây áp lực lên vùng bụng và vùng chậu, làm gia tăng nguy cơ trĩ.
- Tư thế ngồi lâu:
- Ngồi lâu: Những người có công việc phải ngồi lâu, đặc biệt là trên ghế cứng, có nguy cơ cao bị trĩ.
- Lối sống và chế độ ăn uống:
- Chế độ ăn nghèo chất xơ: Thiếu chất xơ có thể dẫn đến táo bón, từ đó làm gia tăng nguy cơ trĩ.
- Uống ít nước: Thiếu nước trong cơ thể có thể góp phần gây táo bón.
- Yếu tố di truyền:
- Có thể có yếu tố di truyền trong việc phát triển tình trạng trĩ.
- Tuổi tác:
- Nguy cơ mắc trĩ lòi dom tăng theo độ tuổi, do các mô và cơ hỗ trợ xung quanh hậu môn trở nên yếu dần theo thời gian.
Triệu chứng của trĩ lòi dom
Triệu chứng của trĩ lòi dom có thể bao gồm:
- Đau và khó chịu: Cảm giác đau hoặc khó chịu thường xuyên ở vùng hậu môn, đặc biệt khi ngồi hoặc đi tiêu.
- Sưng tấy: Xuất hiện vùng sưng tấy bên ngoài hậu môn, có thể cảm nhận được bằng tay.
- Chảy máu: Chảy máu có thể xảy ra khi đi tiêu, thường là máu đỏ tươi.
- Ngứa và kích ứng: Cảm giác ngứa hoặc kích ứng quanh khu vực hậu môn.
- Cảm giác có khối u: Người bệnh có thể cảm thấy như có khối u hoặc bướu ở khu vực hậu môn.
Áp dụng phác đồ diện chẩn vào việc khắc phục đau đầu bằng phương pháp Diện Chẩn
Cách xử lý đơn giản (dành cho mọi người):

- Gạch/chà sáu vùng phản chiếu hệ Bạch Huyết 1-3 lần/ ngày.
- Xử lý dứt điểm chứng táo bón.
- Tập: kiễng chân (nhón gót) hít hơi vào, nín thở và nhíu hậu môn 3-5 giây, thở ra, hạ chân xuống, thả lỏng. Mỗi lần tập 30-50 lượt, thực hiện 1-2 lần/ ngày.
- Bôi tinh dầu Vietmassage (hoặc dầu dừa) vào búi trĩ ngày 1 lần.
- Chà sống mũi ngược từ dưới lên khoảng 30 cái, thực hiện 1-3 lần/ngày.
- Ấn giữ vào các điểm, lần lượt từ số 1 đến số 3. Mỗi điểm giữ khoảng 30-60 giây, làm 1-3 lần/ngày.
Cách xử lý chuyên sâu (dành cho người đã sử dụng thành thạo các kỹ thuật Diện Chẩn Bùi Quốc Châu):

- Thực hiện các cách đơn giản như trên.
- Hơ ngải cứu trực tiếp vào hậu môn trong trường hợp bị trĩ nội khoảng 1-2 phút (bôi tinh dầu trước khi hơ) thực hiện 1 lần/ ngày.
- Day ấn bộ huyệt giảm trĩ theo [hình 2.63b]: 521, 6,
- 127, 63, 19, 18, 103, 126, 143. Thực hiện 1-2 lần/ngày.
Chế độ ăn uống sinh hoạt phù hợp
- Hạn chế ăn đồ cay nóng, chua, lạnh, đồ chiên, xào, nướng.
- Tránh suy nghĩ căng thẳng, cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý đan xen với công việc.
- Chú ý hạn chế ngồi xổm.
Một số lưu ý khi áp dụng Diên Chẩn
- Nên thực hiện phương pháp Diện Chẩn trong môi trường yên tĩnh và thoải mái, cơ thể được thư giãn cũng sẽ giúp cảm nhận chữa trị và hồi phục tốt hơn, từ đó giúp các biện pháp chữa trị phát huy được tác dụng.
- Diện Chẩn có thể kết hợp với các phương pháp hỗ trợ khác như uống nước ấm, tập yoga và thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh.
- Luôn đảm bảo các ngón tay và khu vực da được vệ sinh sạch sẽ trước khi thực hiện Diện Chẩn.
- Nếu tình trạng không cải thiện, nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế để có biện pháp điều trị kịp thời.
Một số sản phẩm Diện Chẩn tham khảo
- Nhang ngải cứu Diện Chẩn
- Massage Mặt Và Mũi Bằng Gỗ
- Combo Bộ Sừng Massage Mặt
Kết luận
Bằng cách kích thích các huyệt đạo, diện chẩn giúp điều hòa khí huyết, giảm căng thẳng thần kinh, từ đó làm dịu cơn đau đầu. Đặc biệt, với những người thường xuyên đau đầu do căng thẳng, mệt mỏi, diện chẩn mang lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên, phác đồ trên chỉ mang tính chất tham khảo, bạn nên linh hoạt điều chỉnh theo tình hình thực tế. Để được tư vấn chính xác, hãy thăm khám tại các bệnh viện lớn.
Bài viết trên có tham khảo từ tài liệu của Giáo sư – Tiến sĩ Khoa học Bùi Quốc Châu.



